Báo cáo nghiên cứu tiềm năng thị trường cá tra đạt chứng nhận ASC tại EU

2.           Thị trường cá thịt trắng EU
2.1          Bối cảnh
Tiêu thụ cá tại EU liên tục tăng và luôn cao hơn khả năng sản xuất của các nước tại EU. Theo Hiệp hội Các nhà Chế biến và Kinh doanh thủy sản EU (AIPCE-CEP), quy mô thị trường thủy sản EU (gồm sản xuất và NK cá thịt trắng, cá hồi, cá ngừ, các loài cá nổi, surimi, tôm và mực-bạch tuộc) đạt khoảng 14,7 triệu tấn thủy sản (cân hơi) năm 2011. Mức độ phụ thuộc của EU vào NK thủy sản là 65%. Nguồn cung cá thịt trắng khai thác tại EU đạt 2,9 triệu tấn, chiếm 20% thị phần thủy sản tại EU. Mức độ phục thuộc vào cá thịt trắng khai thác của EU rất cao vào khoảng 90%.
Năm 2012, EU có khoảng 504 triệu người sinh sống. Theo dự đoán của EUROSTAT, con số này sẽ tăng lên xấp xỉ 508 triệu vào năm 2015 (tăng thêm 4,6 triệu người). Ước tính trung bình mỗi người dân Châu Âu tiêu thụ 22,1kg thủy sản/năm (số liệu năm 2007), nên nhu cầu thủy sản sẽ tăng thêm tổng cộng 100.000 tấn trong 3 năm tới. Điều này có nghĩa là khoảng 20% của mức tăng này, tương đương với 20.000 tấn, là để bổ sung cho nhu cầu cá thịt trắng. Do đó, dự kiến nhu cầu cá thịt trắng sẽ tăng <1% trong 3 năm tới. Mức tăng này chưa bao gồm sự thay đổi sức mua của người tiêu dùng phụ thuộc vào khủng hoảng kinh tế.
Trong 20 năm qua, sản lượng nuôi cá thị trắng nước ngọt toàn cầu tăng trưởng nhanh chóng so với sản lượng từ khai thác. Tuy nhiên, theo tính toán trong giai đoạn 2008 – 2013, dự báo sản lượng cá thịt trắng khai thác toàn cầu sẽ tăng 4,6% so với cá nuôi nước ngọt. Đây là một sự thay đổi xu hướng lớn.
2.2          Thị trường cá thịt trắng EU
Cá rô phi và cá tra là hai loài cá thịt trắng nuôi chính của thị trường EU cho sản phẩm cá philê đông lạnh. Các loài cá quan trọng khác đều từ nguồn khai thác như cá tuyết cod và haddock Thái Bình Dương và Đại Tây Dương, cá minh thái Alaska, cá tuyết lục và cá hake. Đồ thị 1 cho thấy sự phát triển quy mô thị trường cá thịt trắng EU năm 2005 – 2011 đối với cá thịt trắng khai thác, cá tra và các loài cá thịt trắng nuôi khác theo số liệu của AIPCE-CEP. Tăng NK cá tra là nguyên nhân chính giúp phát triển thị trường cá thịt trắng EU từ năm 2005 đến năm 2008. Giai đoạn này, nguồn cung cấp cá thịt trắng khai thác giảm. Sau lần sụt giảm năm 2009, nguồn cung cá thịt trắng khai thác bắt đầu tăng trong khi NK cá tra chững lại.
Giá NK philê cá thịt trắng đông lạnh dao động tùy theo từng loài cụ thể (Bảng 1). Năm 2011, cá tuyết philê đông lạnh (Đại Tây Dương và Thái Bình Dương) và cá haddock có giá NK cao nhất, trong khi cá hake miền Bắc, cá minh thái Alaska và cá tra là sản phẩm cá thịt trắng đông lạnh philê có giá thấp nhất. Dữ liệu về biến động giá NK philê cá thịt trắng đông lạnh năm 2007 – 2011 được trình bày tại Phụ lục 2. Do thị trường cá thịt trắng EU phụ thuộc nhiều vào nguồn cá thịt trắng NK bên ngoài nên tỷ giá EUR/USD ảnh hưởng lớn đến sự biến động giá tại thị trường cá thịt trắng.
  
Bảng 1: Khối lượng và giá nhập khẩu philê cá thịt trắng đông lạnh vào EU năm 2011

Loài
KL (tấn)
Giá (EUR/kg)
Loài
KL (tấn)
Giá (EUR/kg)
Cá tuyết cod Đại Tây Dương
178.000
4,45
Cá hake Argentina
47.000
3,00
Cá haddock
45.000
3,94
Cá rô phi
21.000
2,95
Cá tuyết cod Thái Bình Dương
28.000
3,80
Cá hake phương Bắc
27.000
2,38
Cá tuyết lục
63.000
3,71
Cá minh thái Alaska
324.000
2,30
Cá hake Cape
61.000
3,56
Cá tra
205.000
1,99

Năm 2011, các loại sản phẩm khác như thịt cá đông lạnh nói chung có giá trung bình thấp hơn. Cá minh thái Alaska có giá 1,52 EUR/kg, cá tuyết Đại Tây Dương có giá 2,53 EUR/kg. Giá các loài khác trên thị trường như cá tuyết Đại Tây Dương và Thái Bình Dương, cá minh thái Alaska, cá tuyết lục biến động trong năm do yếu tố mùa vụ, với mùa khai thác chính bắt đầu từ những tháng đầu năm. Phụ lục 3 cung cấp dữ liệu về khối lượng NK cá tra và philê cá thịt trắng khác năm 2011 và sự tăng/giảm trong NK của thị trường EU và của 6 nước tham gia nghiên cứu trong nửa đầu năm 2012 so với nửa đầu năm 2011.
Bảng 2: Khối lượng nhập khẩu và thị phần các loài cá thịt trắng chính năm 2007 – 2011 (philê đông lạnh)

 
KL 2011 (tấn)
Thị phần (%)
2007 so với 2011 (%)
Hà Lan
84.000
9
-4
Đức
247.000
25
2
Italy
54.000
6
42
Anh
143.000
15
5
Tây Ban Nha
125.000
13
16
Ba Lan
70.000
7
-16
Các nước khác
256.000
26
23
Tổng
979.000
100
8
Nguồn: Eurostat, 2012

Đối với các loài cá thịt trắng nêu trong Bảng 1, xu hướng tăng/giảm khối lượng NK philê đông lạnh từ 2007 – 2011 được trình bày trong Bảng 2 (trừ cá rô phi do không thu thập được số liệu từ năm 2007 – 2009). Năm 2011, Đức là nhà NK lớn nhất chiếm 25% tổng lượng NK, tiếp đến là Anh (15%) và Tây Ban Nha (13%). So với năm 2007, chỉ có Hà Lan và Ba Lan giảm khối lượng NK philê cá thị trắng đông lạnh. NK vào Ba Lan giảm chủ yếu do giảm NK cá tra. NK philê cá thịt trắng đông lạnh của Italy tăng mạnh 42% do tăng NK cá hake các loại. Tăng NK cá tra và cá tuyết Đại Tây Dương khiến NK tăng 16%. Đức và Anh đạt mức tăng trưởng dưới 5%.
2.3          Cá tra tại thị trường EU
Xu hướng phát triển chính tại thị trường EU năm 2005 – 2011
Trong giai đoạn 2007 – 2010, tổng lượng NK cá tra vào EU tăng 52% (Đồ thị 2). Trong đó, các thị trường lớn như Tây Ban Nha, Đức, Anh tăng NK trong khi NK vào Hà Lan và Italy biến động. Riêng Ba Lan giảm mạnh NK cá tra từ năm 2008. Năm 2011, NK của EU bắt đầu giảm sau nhiều năm tăng trưởng. NK vào thị trường này năm 2011 giảm xuống bằng mức năm 2008. So với năm 2010, NK giảm 12% về khối lượng và 2% về giá trị; giá NK trung bình tăng từ 1,79 EUR/kg lên 1,99 EUR/kg. Hầu hết các nước đều giảm NK, riêng Italy tăng 21%. Tuy nhiên mức tăng NK cá tra vào EU năm 2010 so với
năm 2009 không thể hiện sự phát triển của thị trường cá thịt trắng EU trong Đồ thị 1 bởi NK vào EU còn bao gồm cả trao đổi thương mại trong nội khối (ví dụ Italy NK cá tra thông qua Hà Lan). NK trực tiếp cá tra từ Việt Nam vào EU năm 2010 đạt 208.000 tấn, thấp hơn mức 216.000 tấn năm 2009.
Năm 2011, giá NK trung bình vào EU đạt 1,99 EUR/kg. Giá NK cá tra dao động tùy theo từng nước (Bảng 3). Giá dao động theo chỉ số về các yêu cầu khác nhau về sản phẩm của từng quốc gia. Nhìn chung, Anh và Hà Lan có yêu cầu cao đối với chất lượng sản phẩm và tính bền vững, do đó trả giá cao hơn cho thủy sản NK. Tây Ban Nha và Ba Lan có yêu cầu thấp hơn nên giá NK cũng thấp hơn.
Bảng 3: Giá trung bình NK cá tra năm 2011 (EUR/kg)
Trung bình tại EU
Hà Lan
Anh
Đức
Italy
Tây Ban Nha
Ba Lan
1,99
2,13
2,48
2,08
2,03
1,90
1,64
Nguồn: Eurostat, 2012
Năm 2011, một số nước EU tái XK cá tra:
-               Hà Lan XK nhiều nhất cá tra sang các nước láng giềng với 10.700 tấn;
-               Đức XK 8.200 tấn chủ yếu sang các nước Trung và Đông Âu;
-               Ba Lan XK 1.600 tấn chủ yếu sang các nước Đông Âu.
Tình hình thị trường năm 2012
Trong nửa đầu năm 2012, NK cá tra của EU giảm mạnh 26% từ 107.000 tấn trong năm 2011 xuống còn 79.000 tấn. Giai đoạn này, giá trung bình NK cá tra của EU tăng lên 2,18 EUR/kg. Tuy nhiên, theo Globefish, giá NK giảm đáng kể tại Tây Ban Nha trong giai đoạn từ tháng 6 – 10/2012. Bảng 4 cho thấy khối lượng NK cá tra vào 6 thị trường trên sụt giảm mạnh.
Nhập khẩu cá tra vào EU, 2007 – 2011 (tấn)

Tây Ban Nha
Ba Lan
Đức
Hà Lan
Italy
Anh
Các nước EU khác

Bảng 4: Tăng, giảm khối lượng nhập khẩu cá tra trong nửa đầu năm, 2011/2012

Trung bình tại EU
Hà Lan
Anh
Đức
Italy
Tây Ban Nha
Ba Lan
-26
-25
-15
-40
-7
-21
-46
Nguồn: Eurostat, 2012

Trong khi thị trường EU chững lại, cá tra trở nên phổ biến tại các thị trường khác. NK cá tra từ Việt Nam của Mỹ tăng 36% từ 35.000 tấn năm 2011 lên 47.000 tấn trong nửa đầu năm 2012. Năm 2011, cá tra đứng thứ 6 trong các loài thủy sản được ưa chuộng nhất với mức tiêu thụ bình quân đầu người 0,6 pao (=2,7kg). Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết, 11 tháng đầu năm 2012, giá trị XK cá tra sang EU giảm 19,4%. Trong khi đó, XK sang Mỹ tăng 14,1%. Cá tra còn có các thị trường quan trọng khác là Mexico và Brazil. Mười một tháng đầu năm 2012, XK sang Mexico duy trì mức cùng kỳ năm 2011. XK sang Brazil giảm 8,2%. XK sang Trung Quốc và Hồng Kông tăng mạnh 33,9%.
2.4          ASC và MSC
Chứng nhận của Hội đồng Quản lý Biển (MSC) là chương trình chứng nhận bền vững quan trọng nhất cho thủy sản khai thác. Tại khu vực Nam Âu, Friend of the Sea (FOS) cũng được áp dụng như một chương trình chứng nhận thủy sản. Một số nghề khai thác cá thịt trắng chính như cá minh thái Alaska, cá tuyết cod, haddock, hake, cá hoki và cá tuyết lục đều được chứng nhận MSC hoặc đang trong quá trình đánh giá cho chứng nhận này. Thủy sản đạt chứng nhận MSC chiếm gần 8% tổng sản lượng khai thác nghề cá. Chứng nhận bền vững cho nuôi trồng thủy sản cũng đang phát triển hơn. Trước khi ra đời chương trình chứng nhận của Hội đồng Quản lý Nuôi trồng thủy sản (ASC), GlobalGAP là chương trình chứng nhận chính tại EU. Tại Mỹ, Hội đồng Chứng nhận Nuôi trồng thủy sản (ACC) cũng là một chương trình chứng nhận quan trọng. Tại Bắc Âu, một số chuỗi bán lẻ đặt mục tiêu trong tương lai chỉ kinh doanh sản phẩm được chứng nhận (ưu tiên sản phẩm đạt chứng nhận MSC hoặc ASC). Năm 2012, khoảng 60.000 tấn sản phẩm thủy sản đạt ASC được tiêu thụ trên thị trường.

 
Nội dung Báo cáo:
1.1          Tổng quan
1.2          Mục tiêu
1.3          Câu hỏi cụ thể
1.4          Bước tiếp cận
1.5          Cấu trúc
2.1          Bối cảnh
2.2          Thị trường cá thịt trắng EU
2.3          Cá tra tại thị trường EU
2.4          ASC so với MSC
Biên dịch: Ngọc Thủy – Ngọc Hà

Trang thông tin điện tử của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP)
Cơ quan Chủ quản: Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP)
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcmcity@vasep.com.vn

VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn

Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng Thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn

Đang online: 971

Tổng lượt truy cập: 120503846

Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông.
Đề nghị ghi rõ nguồn www.vasep.com.vn khi sử dụng thông tin từ trang này.