Năm 2008, khối EU có 21 nước nhập khẩu tôm Việt Nam, đến nay con số này giảm xuống c̣n 13, khiến XK tôm sang khối này giảm trên 18% so với cùng kỳ chỉ đạt 4,62 triệu USD, trong đó Đức chiếm trên 40% với 1,86 triệu USD. Khối ASEAN cũng chỉ c̣n 3 thị trường Xingapo, Đông Timo và Malaixia, trong đó Xingapo chiếm 50% với 534,5 ngh́n tấn. Các thị trường truyền thống khác như Nhật, Mỹ, Hàn Quốc, Ôxtrâylia và Đài Loan vẫn được duy tŕ nhưng khối lượng và giá trị xuất khẩu hầu như giảm.
Các mặt hàng tôm XK của Việt Nam trong nửa đầu tháng 1 bao gồm tôm sú đông lạnh, tôm thẻ đông lạnh, tôm sú chế biến, tôm bọc bột và tôm chế biến khác, tôm càng, tôm sắt đông lạnh, tôm ch́, tôm hùm và tôm đông lạnh các loại khác, trong đó tôm sú nguyên liệu đông lạnh chiếm tỉ trọng cao nhất về giá trị với gần 30%, đạt 1.830 tấn, trị giá 14,84 triệu USD, tôm thẻ đông lạnh 3,487 triệu USD, tôm sú chế biến 3,44 triệu USD.
Hiện tại sản phẩm tôm của Việt Nam rất khó cạnh tranh trên thị trường thế giới với các đối thủ như Thái Lan, Ấn Độ, Inđônêxia v́ họ luôn chào giá tôm đông lạnh thấp hơn của Việt Nam, do chi phí sản xuất của họ thấp hơn.
Có thể do suy thoái kinh tế, thu nhập của người tiêu dùng thế giới giảm, nhu cầu tiêu thụ tôm thay đổi từ tôm cỡ lớn sang cỡ nhỏ giá rẻ. Sự thay đổi này khiến người nuôi tôm trong nước không trở tay kịp, dẫn đến t́nh trạng thiếu nguồn cung tôm cỡ nhỏ để xuất khẩu, trong khi doanh nghiệp lại bị tồn kho tôm cỡ lớn. Giá tôm nguyên liệu tại khu vực ĐBSCL vẫn tiếp tục tăng. Giá tôm sú nguyên liệu tại tính đến đầu tuần này (ngày 10/2) tăng 5.000 đ/kg so với tuần trước đối với tôm cỡ 20 và 30 con/kg.
Mặc dù giá tôm trên thị trường thế giới tăng nhưng với mức giá nguyên liệu như hiện nay, doanh nghiệp chế biến tôm xuất khẩu vẫn không thể có lăi.
Nhật Bản: Năm 2008, nhập khẩu tôm đông lạnh giảm 11%
Cuối tuần thứ 5 của năm 2009 (26/1 - 1/2/2009) đồng yên Nhật giảm 1,2% đạt 90.006 yên/USD so với 88,975 yên/USD. Với sự giảm giá tiền tệ, hoạt động giao dịch trong tuần 5 diễn ra thận trọng.
Trong tuần 5, phục vụ cho nhu cầu dự trữ tôm sú HLSO, các nhà sản xuất vùng Calcutta, Ấn Độ chào giá sản phẩm tôm này từ 10,5 - 5,9 USD/kg nhưng chỉ có tôm cỡ 13/15 được giao dịch ở mức trên 9 USD/kg, giảm khoảng 0,2 USD/kg so với giá trước đó.
Người nuôi tôm ở miền Nam Ấn Độ , chào bán tôm chất lượng cao cỡ 21/25 và 26/30 với giá lần lượt là 8,40 USD và 7,4 USD/kg.
Người nuôi tôm vùng Tarakan, Inđônêxia chào bán tôm cỡ 8/12 - 31/40 là 13,50 - 6,90 USD/kg, tương đương với giá của tuần 4, nhưng tôm cỡ 21/25 - 41/50 tăng lên 8,90 - 6,50 USD/kg, tăng 0,30 USD/kg so với tuần trước.
Tôm thẻ biển vùng Surabaya (Inđônêxia) cỡ 6/8 - 26/30 được giao dịch ở mức 22,50 - 7,00 USD/kg, tôm vùng Vizag (Ấn Độ ) cỡ 8/12 - 26/30 giao dịch ở mức 15,00 - 8,40 USD/kg. Tôm sú rằn cỡ 8/12 - 41/50 có giá 17,80 - 5,80 USD.
Giá tôm sú HOSO của Philippin tăng mạnh do sản lượng thấp và do giá nguyên liệu tăng, một số hợp đồng được kư với giá 14,20 – 6,50 USD/kg tôm cỡ 15 - 50 con/kg, tăng 0,2-1 USD/kg tuỳ cỡ. Tôm chân trắng PUD, block được chào bán giá 8,00 - 5,30 USD/kg nhưng không được chấp nhận.
Theo Hải quan Nhật Bản , tháng 12/2008, Nhật Bản nhập khẩu trên 18.238 tấn tôm nguyên liệu đông lạnh, HLSO và HOSO, trị giá khoảng 182,4 triệu USD, giá trung b́nh 10,00 USD/kg, CIF Nhật Bản, tăng 9% về khối lượng (KL) và 6% về giá trị (GT) so với tháng 11/2008, nhưng giảm 11% về lượng và 13% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái. Năm 2008, nhập khẩu tôm đông lạnh của Nhật đạt trên 196.626 tấn, trị giá 181.763 triệu yên (khoảng 1.756,7 triệu USD), giá trung b́nh 8,93 USD/kg, CIF Nhật Bản, giảm 5% về KL và 11% về GT so với năm 2007. Năm ngoái, Việt Nam đứng đầu về cung cấp tôm đông lạnh cho thị trường Nhật xét về cả khối lượng và giá trị, tiếp đến là Inđônêxia, Thái Lan, Ấn Độ và Trung Quốc...
|
Giá tôm sú HLSO tại New York, Mỹ ngày 30/1/2009 |
|
Cỡ (con/pao) |
Tôm sú nuôi |
|
Bănglađét |
Ấn Độ |
Malaixia |
Thái Lan |
Việt Nam |
|
4/6 |
- |
- |
- |
- |
17,00 |
|
6/8 |
- |
- |
- |
- |
15,00 |
|
8/12 |
9,00 |
8,00 |
10,50 |
9,50 |
10,00 |
|
13/15 |
8,50 |
7,00 |
7,00 |
7,20 |
8,00 |
|
16/20 |
6,50 |
5,50 |
5,80 |
6,00 |
6,00 |
|
21/25 |
5,50 |
4,20 |
4,80 |
5,00 |
5,00 |
|
26/30 |
4,50 |
3,80 |
4,00 |
4,00 |
4,00 |
|
36/40 |
4,00 |
3,20 |
3,60 |
3,50 |
3,50 |
|
41/50 |
- |
- |
- |
2,80 |
- |
Tháng 12/2008, Nhật nhập khẩu trên 1.971 tấn sản phẩm tôm chín, GTGT, ướp lạnh/đông lạnh, trị giá trên 2.232 triệu yên, CIF (khoảng 24,4 triệu USD), giá trung b́nh 12,40 USD/kg, CIF Nhật Bản, tăng 18% về KL và 16% về GT, CIF so với tháng trước và tăng 7% về KL và 4% về GT, CIF so với năm 2007. Năm 2008, nhập khẩu sản phẩm tôm của Nhật đạt trên 19.678 tấn, trị giá khoảng 220,5 triệu USD, giá trung b́nh 11,20 USD/kg, CIF Nhật Bản, tăng 10% về KL và 5% về GT so với năm 2007. Về nguồn cung cấp sản phẩm tôm cho Nhật trong năm 2008, Việt Nam đứng vị trí thứ 2, sau Thái Lan.
Mỹ: Giá tôm ổn định
Trong tuần 5, giá tôm sú HLSO không thay đổi so với tuần trước.
Dự báo:
Do đang ở thời điểm nghịch mùa, nguồn cung tôm khan hiếm, trong khi nhu cầu tiêu thụ trong nước trong dịp đầu năm tăng, nên giá tôm nguyên liệu sẽ c̣n tăng trong những ngày tới.
|
Giá tôm chân trắng HLSO tại New York, Mỹ, ngày 30/1/2009 |
|
Cỡ (con/pao) |
Tôm chân trắng nuôi |
|
Thái Lan |
Inđônêxia |
Êcuađo |
Mêhicô |
Vênêzuêla |
|
8/12 |
- |
- |
- |
- |
- |
|
13/15 |
- |
- |
- |
- |
- |
|
16/20 |
- |
5,30 |
- |
- |
7,00 |
|
21/25 |
4,40 |
5,00 |
- |
5,60 |
5,00 |
|
26/30 |
3,50 |
4,00 |
3,80 |
4,25 |
3,85 |
|
31/35 |
3,30 |
3,60 |
3,50 |
4,10 |
3,75 |
|
36/40 |
3,20 |
3,00 |
3,10 |
4,00 |
3,65 |
|
41/50 |
3,00 |
- |
2,90 |
3,80 |
3,55 |
|
51/60 |
2,50 |
- |
2,65 |
- |
3,35 |
|
61/70 |
2,45 |
- |
2,55 |
- |
3,20 |
|
71/90 |
2,40 |
- |
2,35 |
- |
3,10 |
Doanh nghiệp chế biến tôm khó có thể cạnh tranh về giá thu mua nguyên liệu với các nguồn thu mua tôm sống phục vụ cho các nhà hàng, khách sạn trong nước, trong khi đa số các nhà máy chế biến tôm chưa có vùng nguyên liệu của riêng ḿnh. Do vậy, XK tôm của Việt Nam trong thời gian tới sẽ c̣n giảm nữa.
Lê Hằng |