Bối cảnh
Từ trước đến nay, theo truyền thống, tại Mỹ tồn tại 2 hệ thống kiểm soát an toàn thực phẩm (ATTP): Bộ Nông nghiệp (USDA) - chịu trách nhiệm về thực phẩm sản xuất trong nước và nhập khẩu (NK) sản phẩm thịt, gia cầm và một số loại trứng; c̣n Cục Thực phẩm và Dược phẩm (US FDA) chịu trách nhiệm quản lư việc NK tất cả các thực phẩm c̣n lại.
Hai hệ thống này khác xa nhau về chính sách và biện pháp quản lư. Trước khi cho phép một quốc gia nào đó XK sang Mỹ các sản phẩm thịt, gia cầm và trứng, USDA sẽ kiểm tra để khẳng định hệ thống đảm bảo ATTP của quốc gia đó “tương thích” với hệ thống của Mỹ hay chưa; các doanh nghiệp cũng phải đáp ứng điều kiện tương đương.
Chính v́ thế hiện chỉ mới có 33 nước (Achentina, Ailen, Aixlen, Anh và Bắc Ailen, Ba Lan, Bỉ, Braxin, Canađa, Chile, Costa Rica, Croatia, Đan Mạch, Đức, Hà Lan, Honđuras, Hungary, Ixraen, Italia, Mexico, Nhật, New Zealand, Nicaragua, Oxtrâylia, Phần Lan, Pháp, Rumani, San Marino, Séc, Tây Ban Nha, Thuỵ Điển, Trung Quốc, Uruguay) được phép XK thịt, gia cầm và trứng sang Mỹ.
Tất cả các cơ sở sản xuất của các nước này khi được phép XK sang Mỹ đều có mă số riêng biệt (code) và bị đặt dưới sự theo dơi chặt chẽ, nếu có lô hàng vi phạm, họ sẽ bị “cắt code”, và chỉ được hồi phục sau khi đă phát hiện được nguyên nhân gây nhiễm và có biện pháp sửa chữa đảm bảo kiểm soát ATTP thật sự hiệu quả.
Trong khi đó FDA không có chế độ hạn chế quốc gia được XK thuỷ sản vào Mỹ, bất cứ cơ sở sản xuất nào có hồ sơ áp dụng HACCP là đủ điều kiện để XK, nên hiện đă có tới hơn 13.000 nhà máy từ 150 quốc gia XK các sản phẩm do FDA quản lư sang Mỹ. FDA lại chỉ kiểm tra một phần rất nhỏ khối lượng hàng NK. Theo thống kê, trong 5 năm qua, thực phẩm NK vào Mỹ đă tăng hơn 60%, trong khi số lượng các thanh tra viên của FDA lại giảm đi 15% và đang có kế hoạch thu hẹp bớt các chi nhánh và cơ sở của họ.
Các nhà lập pháp Mỹ cũng đă so sánh hệ thống quản lư TTP NK của Mỹ với Nhật. Họ thấy hiện Nhật Bản đang phải NK tới 60% thực phẩm, mà Bộ Nông Lâm Ngư nghiệp Nhật Bản đang kiểm tra bắt buộc 10% các lô hàng thực phẩm NK; c̣n Mỹ chỉ NK 15% thực phẩm cung ứng cho tiêu dùng trong nước, trong khi US FDA chỉ kiểm tra có 0,2% số lô hàng. Đây là điều “không thể chấp nhận” đối với cả người tiêu dùng lẫn cơ quan lập pháp Mỹ.
Khi đề xuất Dự luật này, hạ nghị sĩ Dingell nhấn mạnh: “Hiện nay chúng ta NK nhiều thực phẩm gấp đôi thập niên trước, trong khi FDA chỉ kiểm tra dưới 1% số lô hàng, v́ thế đă để tuồn vào đất nước ta các loại thực phẩm hư hỏng mà không bị phát hiện, và t́nh h́nh chắc chắn sẽ tiếp tục sẽ xấu đi nếu không có ngay các bước đi khẩn cấp để siết chặt biện pháp an toàn.
Số lượng thực phẩm NK bị nhiễm ngày càng tăng chứng tỏ rằng FDA không có đủ cả thẩm quyền lẫn nguồn lực cần thiết để đảm bảo ATTP và dược phẩm của chúng ta. Điều đó nguy hiểm cho mọi công dân Mỹ.
Cũng cần lưu ư rằng hạ nghị sĩ John D. Dingell là nhân vật quan trọng, có tầm ảnh hưởng rất lớn trong hệ thống lập pháp Mỹ. Ông là hạ nghị sĩ có thâm niên lâu nhất (liên tục hơn 50 năm - từ 1955 đến nay) của Hạ viện Mỹ, và là Chủ tịch nhiều năm của Uỷ ban Năng lượng và Thương mại - Uỷ ban có lich sử lâu đời nhất trong hệ thống lập pháp Mỹ. V́ thế, Dự luật H.R.3610 càng nhiều khả năng nhận được sự ủng hộ của hai viện và Nhà Trắng
Nội dung
Dự luật H.R. 3610 gồm 14 điều. Mục tiêu chủ yếu của H.R. 3610 là “nâng cấp” t́nh h́nh kiểm soát ATTP đối với các loại thực phẩm (trong đó có thuỷ sản) NK do FDA quản lư để “tương đương” với các quy định hiện hành của USDA và Liên minh Châu Âu.
Ta hăy phân tích một số điều khoản chính của dự luật sẽ có ảnh hưởng đến việc NK thuỷ sản vào Mỹ và khả năng diễn biến của quá tŕnh thông qua Dự luật trong tương lai.
· Thu phí sử dụng khi NK:
- Dự luật đề xuất thu phí sử dụng khi NK các lô hàng thực phẩm và dược phẩm. Phí thu được sẽ dược dùng để thuê thêm nhân lực tiến hành kiểm tra tại cảng NK và các nước XK, bổ sung nhân lực và trang bị cho các pḥng kiểm nghiệm của FDA để tăng cường kiểm nghiệm thực phẩm và dược phẩm.
- Điều khoản này rất có khả năng được thông qua và sẽ uổng công nếu t́m cách chống lại nó. Cả ngành công nghiệp dược “hùng mạnh” vẫn đang phải nộp phí sử dụng cho FDA khi NK vào Mỹ. Trước đây các công ty dược phẩm cũng đă từng chống lại việc đóng phí sử dụng khi NK, nhưng rốt cuộc họ hiểu ra rằng làm “khách hàng nộp phí” cho FDA th́ có lợi hơn.
· Hạn chế số cảng nhập thực phẩm: Việc NK thực phẩm có lẽ sẽ bị hạn chế vào một số cảng nhất định, nơi mà FDA có chi nhánh được trang bị và cán bộ đầy đủ để kiểm tra. Điều khoản này chắc chắn sẽ được thông qua.
· Ghi nhăn nước xuất xứ : Các quy định hiện hành về ghi nhăn nước xuất xứ (COOL - Country of Origin Labelling) chắc sẽ được mở rộng sang cho tất cả các loại thực phẩm khác. Thực ra đây là việc quá chậm, bởi lẽ thuỷ sản đă phải áp dụng quy định này từ lâu rồi, trong khi các loại thực phẩm khác đến nay vẫn được miễn.
· Kiểm soát các nhà NK: Nhà NK tại Mỹ sẽ bị kiểm tra, bắt buộc phải lưu trữ tất cả các chi tiết và chứng từ cần thiết để truy nguyên nguồn gốc sản phẩm NK và tŕnh cho cơ quan chính phủ các tài liệu về đảm bảo an ninh hệ thống cung cấp. Và nhà NK chắc chắn sẽ cảm thấy bị liên đới nhiều hơn trong những năm tới, và bất cứ một sự vi phạm nào th́ không chỉ công ty bị phạt mà cá nhân giám đốc cũng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.
· Tiền phạt: Nhà NK sẽ bị phạt tới 500.000 USD nếu bị phát hiện NK các loại thực phẩm không đảm bảo ATTP, theo quy định của Luật Thực phẩm và Dược phẩm hiện hành. Thực ra hiện nay FDA cũng đă có các chế tài rất rộng về xử phạt các vi phạm, áp dụng cho công ty lẫn cá nhân chịu trách nhiệm, tuy nhiên các chế tài này ít khi được sử dụng. Chắc chắn trong tương lai, FDA sẽ áp dụng “biện pháp mạnh” thường xuyên hơn, để chứng tỏ rằng họ có trách nhiệm về cuộc “khủng hoảng an toàn thực phẩm NK” hiện nay.
· Quyền triệu hồi: Hiện nay việc triệu hồi sản phẩm do nhà sản xuất, nhà NK và nhà phân phối thực phẩm quyết định. Theo Dự luật, FDA sẽ được trao thẩm quyền độc lập để ra lệnh triệu hồi các lô sản phẩm. Đó sẽ là “chuông đánh thức” các nhà NK, những người sẽ bị buộc phải xem xét điều chỉnh bản “Kế hoạch Quản lư Triệu hồi” của họ.
· Yêu cầu chứng nhận: Theo tinh thần Dự luật, FDA có lẽ sẽ bị buộc phải thay đổi phương thức và biện pháp quản lư ATTP NK để tương thích với các quy định của USDA, nghĩa là họ sẽ phải bắt buộc các quốc gia và các cơ sở sản xuất thực phẩm phải có hệ thống đảm bảo ATTP “tương thích” với hệ thống của My, cấp code cho các cơ sở nàỹ. Đồng thời họ phải tăng cường tỷ lệ kiểm tra các lô hàng NK lên gấp nhiều lần mức hiện nay.
· Hạn chế sử dụng oxyt cacbon và bắt buộc ghi nhăn: Quy định ghi nhăn dự kiến bắt buộc như sau: ”LƯU Ư AN TOÀN: Oxyt cacbon đă được sử dụng để tạo màu cho sản phẩm này. Không nên chỉ dựa vào màu sắc và thời hạn để đánh giá độ tươi của sản phẩm. Phải loại bỏ các sản phẩm có mùi khó chịu, bị nhầy nhớt hoặc bao gói bị bục”. Không hiểu liệu có nhà sản xuất nào muốn ghi từ “bị nhầy nhớt” trên bao b́ thực phẩm của ḿnh không?
Và v́ có đến 83% thuỷ sản do người Mỹ tiêu thụ là sản phẩm NK, trong đó Mỹ NK đến khoảng 50% sản phẩm tôm nuôi toàn cầu, nên một khi được thông qua, chắc chắn những quy định khắt khe trong Dự luật H.R. 3610 sẽ tác động mạnh đến các DN sản xuất và nuôi thuỷ sản trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Được biết, ngày 26/9/2007, Dự luật này đă được thảo luận và thông qua ở Tiểu ban Sức khoẻ thuộc Uỷ ban Năng lượng và Thương mại Hạ viện Mỹ. Nó sẽ được thảo luận ở cấp Uỷ ban và Thượng viện trong năm 2008.
VASEP đă đề nghị các cơ quan Nhà nước hữu quan và các DN quan tâm theo dơi chặt chẽ các diễn biến chung quanh Dự luật này và chuẩn bị những công việc cần thiết để sẵn sàng đáp ứng các yêu cầu mới từ thị trường Mỹ một khi Dự luật trở thành Luật.
PGS.TS. Nguyễn Hữu Dũng |