1. Chưa có bản “Hướng dẫn triển khai thực hiện Quy chế Chứng nhận khai thác”: Hiện tại đă 1 tháng kể từ khi Quy chế có hiệu lực và việc khai thác, chế biến, xuất khẩu th́ vẫn phải thực hiện để đáp ứng đơn hàng & giữ bạn hàng. Việc phổ biến Quy chế cũng đă được Cục, NAFIQAD, VASEP và các bên tiến hành ngay sau khi ban hành Quy chế. Tuy nhiên, điều cốt lơi là chưa có Hướng dẫn thực hành nên đang tồn tại các cách hiểu và cách làm khác nhau giữa các địa phương và trong cộng đồng chủ hàng xuất khẩu, nhiều điểm quan trọng thực hiện chưa được hướng dẫn làm rơ, xử lư kéo dài, gây khó khăn cho DN và ách tắc cho công tác xuất khẩu .
Kiến nghị: Cục Khai thác & BVNL Thuỷ sản chủ tŕ phối hợp với Cục NAFIQAD để ban hành càng sớm càng tốt bản “Hướng dẫn thực hành ”kể trên để thống nhất toàn quốc về cách làm và áp dụng quy chế sao cho đáp ứng yêu cầu của Châu Âu, phù hợp thực tiễn tại Việt Nam nhưng hỗ trợ tối đa cho các DN xuất khẩu “mặt hàng có nguồn gốc từ biển do cộng đồng không nhỏ ngư dân khai thác được”.
2. Giấy chứng nhận khai thác (CC) cho lô hàng XK của DN không được cơ quan thẩm quyền (CQTQ) địa phương xác nhận do Ngư dân cung cấp nguyên liệu thiếu nhật kư khai thác theo Thông tư 63.
Kiến nghị: Cục chỉ đạo và hướng dẫn các Chi Cục địa phương thực hiện tốt trách nhiệm triển khai Thông tư 63 đến đông đủ, kịp thời, có tính hỗ trợ cho toàn bộ đối tượng ngư dân phù hợp tại địa phương để thực hiện tốt Nghị định số 123/2006/NĐ-CP ngày 27/10/2006 của Chính phủ về quản lư hoạt động khai thác thuỷ sản; qua đó tạo cơ sở hỗ trợ cho việc triển khai quy chế 3477 về IUU mà đối tượng chịu trách nhiệm chính là chủ hàng xuất khẩu vào EU, nhất là trong giai đoạn 6 tháng sau khi IUU có hiệu lực cần thời gian để áp dụng. Đặc biệt, không thể áp những trường hợp ngư dân chưa có ghi nhật kư (nhất là giai đoạn tháng 1 -2/2010, việc phổ biến TT 63 và phát sổ nhật kư là chưa kịp thời) để gây khó khăn cho việc xác nhận CC.
3. Giấy CC không được CQTQ xác nhận hoặc kéo dài thời gian xử lư do việc đối chiếu thông tin tàu cá ghi trong CC không có hoặc thiếu trong hệ thống hồ sơ lưu trữ cấp phép khai thác của địa phương.
Kiến nghị: Cục chỉ đạo và hướng dẫn các Chi cục địa phương cần nhanh chóng xây dựng, cập nhật đầy đủ & có hệ thống theo tiêu chí chung về danh sách tàu thuyền, có đầy đủ thông tin lí lịch tàu và giá trị sử dụng giấy phép khai thác kèm theo. Điều này không chỉ giải quyết căn bản việc quản ly tốt hơn vấn đề IUU, giải quyết ách tắc việc đối chiếu xác nhận CC mà c̣n là "kênh" bắt buộc để tập trung 01 cơ sở dữ liệu tàu thuyền toàn quốc theo yêu cầu thực hành của EU trong quá tŕnh thực hiện kiểm soát hoạt động khai thác IUU.
4. Việc xác nhận của các Cảng cá: phức tạp, nhiêu khê, thiếu chỉ đạo đồng nhất để thực hiện.
Kiến nghị: Có 2 việc nên được triển khai song song. (1) Cục chủ tŕ và phối hợp với Cục NAFIQAD nghiên cứu và trao đổi với đại diện EU về thực trạng của Việt Nam, đề xuất phương án bỏ Cảng khỏi danh mục cần xác nhận của giấy CC 2ª. (2) Trong thời gian hiện tại và chưa được sự đồng ư của EU, Cục chỉ đạo ngay các Chi Cục địa phương về việc thống nhất triển khai áp dụng đúng theo Quy chế 3477 của Bộ NNPTNT và theo tinh thần hỗ trợ cho XK hải sản. Xem xét băi bỏ việc thu phí Xác nhận Giấy CC của các Cảng cá.
Nội dung chi tiết công văn, xin xem file đính kèm:
 CV 15/2010/CV- VASEP |